"Sự tự lập giúp trẻ phát triển về kỹ năng sống và học vấn toàn diện hơn"

Đứa trẻ phát triển tính tự lập thông qua các mối quan hệ giao tiếp và tương tác với những người trong gia đình. Chính vì vậy bậc phụ huynh chính là những người rất quan trọng trong việc hình thành nên tính tự lập ở trẻ.

1. Dành thời gian dạy dỗ
Dành thời gian để ‘huấn luyện’ trẻ chập chững làm những việc như người lớn là bước đầu tiên giúp trẻ tự giác và ý thức hơn trong việc tự phục vụ nhu cầu bản thân. “Mỗi tuần, hãy vạch ra một việc mới cho trẻ làm quen. Ban đầu nên tách công việc này thành những bước nhỏ và kiên nhẫn dạy trẻ cách làm. Sau khi trẻ đã nhuần nhuyễn hơn, khéo léo hơn… hãy coi công việc đó như một ‘nhiệm vụ’ mà trẻ phải hoàn thành”

2. Khen ngợi sự nỗ lực của trẻ
“Ngay cả khi kết quả công việc của trẻ không thực sự xuất sắc, cha mẹ vẫn nên mỉm cười và tỏ ra hài lòng với nỗ lực của trẻ”, để dần hình thành và phát triển nhân cách cho các em. Bởi thế, dù trẻ làm việc nhỏ nhất, ví như: tự rót nước uống… thì cha mẹ vẫn nên thưởng trẻ bằng những lời khen thiện chí, nhằm nâng cao sự tự lực cho trẻ.
Tuyệt đối không phê phán trẻ, không dùng những từ “Không được! Vỡ bây giờ! Hỏng hết rồi! Hậu đậu thế!...” với trẻ khi trẻ đang học một kỹ năng nào đó..

3. Dạy trẻ tư duy
Hãy dạy trẻ biết cái gì hay, cái gì dở, cái gì hợp lý, cái gì không... Ví dụ, mẹ có thể hỏi bé: “Hôm nay trời lạnh quá, mình có cần đội mũ len không nhỉ? Mình nên đi giày ấm hay là xăng-đan con nhỉ?” Và nhờ bé lấy những món đồ đó ra… Nghĩa là thay vì ra lệnh cho bé tự làm một việc: “Con mặc quần áo đi, con đi giày đi...!” thì mẹ nên hướng bé đến hành động đó một cách gián tiếp.

4. Hạn chế trợ giúp
Cha mẹ không thể lúc nào cũng bên con 24h/ngày và 7 ngày/ tuần. Do đó, đừng bao giờ xắn tay trợ giúp con những việc mà bản thân chúng có thể tự làm.
Đặc biệt, thay vì ‘cầm tay chỉ việc’ hãy để trẻ tự nói chúng sẽ làm gì – điều này giúp trẻ có cảm giác làm chủ được thử thách. Tất nhiên, nếu trẻ cần vài gợi ý hay trợ giúp để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó thì cha mẹ hãy luôn sẵn sàng nhé!

Một người có tính tự lập luôn cảm thấy đủ khả năng để đối mặt với mọi khó khăn của cuộc sống cũng như luôn làm chủ được mình. Hình thành tính tự lập ở trẻ ngay lúc còn nhỏ là một yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển và sự trưởng thành của trẻ sau này.

Các bậc phụ huynh ở nhiều quốc gia phát triển rất coi trọng việc huấn luyện cho trẻ biết cách tự lo liệu, biết chịu gian khổ ngay từ bé. Bởi vì họ ý thực được rằng, sau này, chúng sẽ phải sống trong một xã hội cạnh tranh, đầy áp lực.

Để khắc phục tính nhút nhát của con trẻ, các mẹ hãy tham khảo những bí quyết dưới đây để giúp bé mạnh dạn, tự tin hơn trong cuộc sống.
Giúp trẻ diễn đạt tình cảm

Trẻ nhút nhát sẽ sợ đương đầu với sự phán đoán, đánh giá của người khác. Hãy thường xuyên hỏi trẻ những điều đơn giản, lắng nghe trẻ, cho biết bạn đồng ý hay không đồng ý với trẻ. Quan tâm củng cố sự tự tin nơi trẻ, trẻ càng bày tỏ nhiều với bạn, việc thông đạt với người khác càng tự nhiên hơn.

Không làm to chuyện, không bi đát hóa tình huống

Tính nhút nhát chừng mực là biểu hiện của sự tự vệ, không hẳn là tiêu cực. Đó là một nét sâu sắc thuộc bản chất con người. Hãy giải thích với con bạn rằng nhút nhát không phải là khuyết điểm lớn, và điều quan trọng là chấp nhận nó. Hãy kể cho trẻ nghe kinh nghiệm riêng của bạn, cho trẻ biết bạn từng trải qua những thử thách như trẻ để giúp trẻ bớt cảm giác lẻ loi, lạc lõng.

Không xem nhút nhát như một cớ để bao che

Những câu nói kiểu như: “Hãy tha lỗi cho cháu, cháu nhát lắm” nghe tưởng như vô hại, nhưng thật ra càng làm cho con bạn tin rằng đó là một tính chất không thể sửa đổi. Kiểu “bị gắn nhãn” ấy cũng có thể là lý do nại ra để trẻ không muốn thay đổi và tránh mọi tình huống xã hội mà trẻ xem là khó nhọc.

Tránh nói đến tính nhút nhát của trẻ trước mọi người

Những trẻ nhút nhát thường rất nhạy cảm trước những lời nói liên quan đến chúng. Nói về tính nhút nhát của trẻ với những người mẹ khác chỉ càng khiến trẻ thêm bối rối và làm vấn đề trầm trọng hơn. Chế nhạo trẻ có thể càng khiến trẻ thêm nhút nhát. Ngay cả đôi khi thái độ của trẻ làm bạn nổi giận, bạn cũng nên kiềm chế, vì những nhận xét gay gắt thốt ra dưới cơn giận sẽ in sâu trong óc con bạn.

Không đột ngột đưa trẻ đến gặp những người khác

Không ngừng khuyến khích trẻ đến với những người khác sẽ có nguy cơ khiến trẻ thêm bất an và làm tăng nỗi sợ của trẻ. Con bạn sẽ có cảm tưởng cha mẹ không hiểu nó và càng khép kín. Tốt hơn nên từ từ giúp trẻ vượt qua tính nhút nhát một cách tuần tự, tế nhị, nhẹ nhàng.

Không nên bảo bọc trẻ quá đáng

Bảo bọc trẻ quá mức sẽ gây tác dụng ngược. Thái độ ấy càng khiến trẻ nghĩ nỗi sợ của nó có căn cứ. Kiểu tránh né ấy chỉ làm tăng sự sợ hãi cho trẻ. Cần để trẻ tự xoay xở với những vấn đề của nó. Đặc biệt cha mẹ cần cương quyết trong dạy lễ phép cho trẻ. Nhút nhát không phải là cớ để không chào hỏi, không nói cám ơn.

Đề nghị với trẻ những vận dụng nho nhỏ về tình huống

Đặt cho trẻ những “thách đố” nho nhỏ, chẳng hạn bảo trẻ chào và hỏi thăm sức khỏe bà cụ hàng xóm mỗi ngày hay mua bánh mì ở gần nhà. Cách ấy sẽ giúp trẻ tự tin, bạo dạn hơn.

Giúp trẻ nhận biết giá trị bản thân

Khen trẻ mỗi khi trẻ đạt một thành tích nhỏ sẽ rất hiệu quả trong việc giúp trẻ bớt nhút nhát. Với mỗi gắng sức của trẻ, cha mẹ đừng tiếc lời khen. Nên nói: “Mẹ thật tự hào vì con, con đã vượt qua nỗi sợ”, hay “Con thật can đảm”.

Nghĩ đến những sinh hoạt ngoài trường học

Những môn thể thao tiếp xúc như judo hay karaté giúp trẻ chống lại cảm giác tự ti, trong khi sáng tạo nghệ thuật giúp trẻ thể hiện ra ngoài những cảm xúc và nỗi đau. Nhưng chỉ ghi danh cho trẻ loại hình sinh hoạt này khi trẻ muốn. Ngược lại, cha mẹ sẽ gây cho trẻ cảm giác ngạt thở, có nguy cơ trẻ trở nên khép kín.

Không để trẻ có cảm giác lẻ loi

Dự những lễ sinh nhật có thể là một thử thách thật sự đối với những trẻ nhút nhát. Đừng buộc trẻ đến dự nếu trẻ không muốn. Ngược lại, nên mời những trẻ khác đến chơi với trẻ tại nhà. Ở nhà, trong môi trường quen thuộc, trẻ dễ dàng vượt qua nỗi sợ. Chắc chắn trẻ sẽ cảm thấy thoải mái khi mỗi lần chơi với một người bạn, hơn là với một nhóm bạn. Thỉnh thoảng chơi với một bé nhỏ hơn một chút, đặt trẻ ở một vị thế trội hơn, có thể cho trẻ cảm giác an tâm hơn so với khi chơi với những trẻ cùng tuổi.

Trong suy nghĩ của phần lớn teen hiện nay, mẹ là người có công sinh thành, nuôi dưỡng, nhưng chưa phải là một người bạn để teen có thể tâm sự và chia sẻ những câu chuyện của chính mình. Tuy nhiên, mẹ cũng có thể trở thành một người bạn, một tri kỉ tuyệt vời của teen, đặc biệt là các teen nữ đấy!

Dù vậy, không phải ai cũng có thể làm bạn với mẹ của mình. Phần lớn teen nữ cho rằng mẹ không tâm lý hay không có thời gian tâm sự với mình nên thường có thái độ sợ hãi, dè dặt khi nói chuyện với mẹ. Thay vào đó, các bạn sẽ kể những ưu tư ấy cho bạn thân và dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm. Nhưng các teen ơi, các bạn đã nghĩ sai rồi! Vì chỉ cần các bạn biết cách mở lòng ra nói với mẹ những chuyện mà mình đang băn khoăn, chắc chắn mẹ sẽ hiểu và cho bạn những lời khuyên chân thành nhất, đúng đắn nhất. Xóa bỏ khoảng cách và mở lòng mình với mẹ, các bạn đã thử chưa ?

Nhiều teen thường cảm thấy bức xúc khi mẹ đọc nhật kí hay tin nhắn điện thọai của mình và cho rằng mẹ rất quá đáng vì đã xâm phạm đến đời sống riêng tư hoặc không tôn trọng bạn. Nhưng các bạn biết không, mẹ đọc nhật kí của các bạn không phải là vì những lý do trên đâu. Thật sự là mẹ lo lắng cho các bạn và muốn hiểu các bạn thôi, và việc mẹ muốn biết rõ hơn về thế giới riêng tư của các bạn là điều hoàn toàn chính đáng. Nếu các bạn muốn mẹ không can dự quá nhiều về cá nhân hay cụ thể là đọc nhật kí, tin nhắn của mình, các bạn hãy chủ động nói chuyện với mẹ nhiều hơn. Ban đầu, các bạn có thể kể cho mẹ nghe về những câu chuyện vui trên lớp, những người bạn thân mình yêu quý… Chỉ cần những chuyện đơn giản thế thôi, chắc chắn mẹ sẽ thấy thích thú và rất vui vì bạn đã chia sẻ những câu chuyện của mình cho mẹ. Và những lúc buồn bạn cũng nên tâm sự và hỏi lời khuyên của mẹ nhé, chắc chắn mẹ sẽ nhiệt tình giúp bạn. Chỉ vậy thôi, chắc hẳn mẹ sẽ tin tưởng bạn nhiều hơn, vì bạn luôn thành thật với mẹ mà, và lúc đó mẹ cũng đã hiểu về teen chúng ta chút chút rồi. Vậy nên mẹ sẽ không cảm thấy lo lắng về con gái và tò mò những mẩu tin nhắn hay những dòng nhật kí nữa. Mà qua đó, tình cảm của hai mẹ con cũng trở nên khắng khít hơn.

Trong trường hợp mẹ bạn quá bận rộn với những công việc hằng ngày? Bạn đừng lo về chuyện đó mà hãy dành thời gian gọi điện hỏi thăm mẹ nhiều hơn, hỏi mẹ công việc của mẹ thế nào và hãy trả lời thành thật những câu hỏi của mẹ nhé. Làm được như thế thì hai mẹ con lúc nào cũng giữ được tình cảm và vượt qua mọi khoảng cách.
Đấy, chỉ cần những hành động nho nhỏ, đơn giản thế thôi, bạn và mẹ sẽ không phải e ngại khi nói chuyện với nhau hay lo bất đồng quan điểm nữa. Tất nhiên, có những lúc mẹ cũng sẽ không đồng ý với bạn vài vấn đề (như chuyện tình cảm chẳng hạn), tuy nhiên nếu bạn kiên nhẫn chứng minh cho mẹ thấy vấn đề ấy là đúng đắn và bảo đảm không gây ảnh hưởng cho việc học, chắc chắn mẹ sẽ hiểu và thông cảm với bạn ngay thôi. Chúc teen sẽ sớm trở thành bạn thân của mẹ thông qua những mẹo nhỏ này. Và mình nói trước nha, mẹ là một người bạn thân rất tuyệt vời đấy!

Bảo Châu – CLB Bút xanh

Sự phát triển ngôn ngữ nói ở trẻ em là một trong những tiến trình kỳ diệu và bí ẩn nhất trong đời sống con người. Sự định hình ngôn ngữ từ lúc trẻ bập bẹ những lời đầu tiên đến khi trẻ nói được những câu trôi chảy, lưu loát đã diễn ra một cách hết sức tự nhiên, ngay từ lúc trẻ chưa đến trường, và thật khác xa với quá trình học một ngoại ngữ ở người lớn chúng ta

Những mầm mống đầu tiên của lời nói

Âm thanh mà mọi đứa trẻ tạo nên ngay từ lúc mới sinh ra là tiếng khóc. Trẻ em trên toàn thế giới đều có chung một tiếng khóc chào đời. Nhưng chỉ vài tuần sau đó, tiếng khóc của trẻ chuyển biến thành những giọng điệu khác nhau, thể hiện những yêu cầu và ước muốn của trẻ trong những tình huống khác nhau, như khi trẻ khát sữa, khi khó chịu vì thời tiết nóng, lạnh hoặc khi tã lót bị ướt. Đến khoảng hơn một tháng tuổi, ngoài tiếng khóc, trẻ bắt đầu phát ra những âm thanh khác như những tiếng “gù-gù” (những âm thanh chứa đựng chủ yếu nguyên âm “u”), hoặc những âm thanh giống như tiếng nấc. Từ 3 đến 6 tháng tuổi, trẻ phát ra nhiều âm thanh hơn, những tiếng ê-a, bập bẹ, tiếng phì phèo nước bọt ở miệng và cả những tiếng líu lo khi trẻ vui sướng, thoải mái hay khi “hóng chuyện” với người lớn.

Từ 6 tháng trở đi, tiếng bập bẹ của trẻ bắt đầu có nét tương tự như những âm thanh hiện diện trong lời nói của người lớn. Một số nhà nghiên cứu như Mowrer (1960) cho rằng tiếng bập bẹ của trẻ em chứa đựng những âm thanh có trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới và việc hình thành lời nói là một quá trình chọn lọc, loại bỏ những âm không có nghĩa và giữ lại những âm có nghĩa trong tiếng mẹ đẻ của trẻ.

Trong suốt năm đầu tiên của đời sống, đa số trẻ em chưa nói được những từ có nghĩa. Người ta gọi đây là giai đoạn giao tiếp không dùng lời nói (nonverbal communication).

Sự nhận thức và phân biệt các âm thanh

Cơ quan thính giác (tai) của trẻ ngay từ khi mới ra đời đã phát triển và hoạt động rất tốt.Wertheimer (1961) nhận thấy trẻ sơ sinh có thể xoay đầu hướng về phía nguồn phát ra âm thanh. Trẻ 2-3 tuần tuổi có thể phân biệt giữa âm thanh của một giọng nói với những âm thanh không phải lời nói. Khoảng 2-3 tháng tuổi, trẻ có thể phản ứng khác nhau với các giọng nói khác nhau: một giọng nói giận dữ có thể khiến cho trẻ khóc, trong khi một giọng nói vui vẻ sẽ làm cho trẻ mỉm cười và cất tiếng ê-a. Đến 4-5 tháng tuổi, trẻ bắt đầu thấy thích thú khi chơi một mình với những âm thanh do tự mình phát ra (như tiếng phì phèo nước bọt).

Tuy có khả năng nghe và phân biệt âm thanh tốt, nhưng trong 6 tháng đầu đời, trẻ hãy còn quá nhỏ để có thể hiểu được ý nghĩa của những lời nói. Trẻ 6 tháng tuổi chủ yếu lắng nghe và phân biệt những ngữ điệu trầm bổng của lời nói hơn là tìm hiểu những nội dung chứa trong các từ ngữ.

Lĩnh hội ngôn ngữ

Khoảng 8-14 tháng tuổi, trẻ bắt đầu hiểu được một số từ đầu tiên. Đây là khoảng thời gian trẻ có thể chỉ tay hoặc nhìn về phía mẹ khi được hỏi “Mẹ đâu?”, và cũng là giai đoạn mà trẻ có thể làm theo một số những chỉ dẫn đơn giản như vẫy tay chào và khoanh tay “ạ” với người lớn. Những yêu cầu của người lớn như “đứng lại”, “đến đây”, “ngồi xuống”, “hôn mẹ đi”... cũng được trẻ hiểu và làm theo.

Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ lúc này đã phát huy hiệu quả và vẫn diễn tiến suốt cả thời kỳ học nói trong những năm đầu đời của trẻ với tốc độ khá nhanh, vốn từ vựng mà trẻ thu nhận được (qua quá trình nghe hiểu) gia tăng từ 5-10 từ lúc 12 tháng tuổi lên đến khoảng 300 từ vào lúc trẻ được 24 tháng tuổi. Dù rằng cho đến thời điểm đó có trẻ vẫn chỉ mới nói được vài từ.

Theo Chomsky (1965), Eric Lenneberg (1967) và Mc Neill (1970), trẻ em được sinh ra với một khả năng lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh. Khả năng này cho phép trẻ “giải mã” những âm thanh trong lời nói của người lớn và nắm bắt dần ý nghĩa của những lời nói này một cách hết sức tự nhiên. Bên cạnh đó, yếu tố ngữ cảnh (hoàn cảnh cụ thể khi lời nói được sử dụng) và các đáp ứng phản hồi của người lớn khi nói chuyện với trẻ sẽ có vai trò củng cố những ý nghĩa của lời nói mà trẻ tiếp thu được.

Những cố gắng đầu tiên để nói

Hầu hết trẻ em bắt đầu nói từ khoảng sau 14 tháng tuổi. Việc chuyển tiếp từ giai đoạn chưa biết nói sang giai đoạn biết nói có thể diễn ra từ từ hoặc đột ngột. Trong vài trường hợp, có một khoảng thời gian yên lặng khoảng vài ngày hoặc vài tuần trong đó trẻ ngưng tất cả những tiếng bập bẹ, rồi sau đó trẻ bắt đầu nói ra những từ có ý nghĩa thật sự.

Những âm đầu tiên mà trẻ sử dụng để tạo nên lời nói dường như giống nhau ở mọi ngôn ngữ. Nguyên âm đầu tiên thường là “a”, phụ âm đầu tiên thường là các phụ âm môi như “b, p”, sau đó là “m”. Các âm này được kết hợp lại tạo thành những từ “ba”, “pa”, “ba-ba”, “pa-pa” và sau đó là “ma”, “ma-ma”. Một cách tự nhiên, những người cha, người mẹ trên khắp thế giới sớm nhận ra các âm thanh đầu tiên này như những cố gắng của trẻ nhằm để gọi tên họ.

Trong vài tháng đầu, trẻ chỉ nói được từng từ đơn lẻ (câu có một từ). Nhưng đến khoảng 18-20 tháng tuổi, một số trẻ bắt đầu ghép hai từ lại với nhau để tạo thành những câu có cấu trúc ngữ pháp đơn giản nhất : câu có hai từ. Ở một số trẻ bình thường, khả năng nói được những câu hai từ có thể xuất hiện muộn hơn 24 tháng tuổi. Tuy nhiên, dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngôn ngữ vẫn bình thường là trẻ tiếp tục hiểu được và làm theo những chỉ dẫn và yêu cầu ngày càng phức tạp hơn của người lớn.

Những bước chuyển quan trọng

Giai đoạn 24-36 tháng tuổi đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng cả về chất lẫn về lượng của sự sáng tạo và sử dụng lời nói của trẻ em. Trẻ sử dụng lời nói nhiều hơn để diễn tả những cảm nghĩ và ý muốn, tuy rằng việc nói nhiều hay nói ít còn tùy thuộc một phần vào cá tính của từng trẻ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ cũng gia tăng với một tốc độ nhanh giúp trẻ không chỉ mở rộng thêm vốn từ vựng mà còn tiếp thu cả những qui tắc ngữ pháp ngày càng phức tạp hơn trong ngôn ngữ nói của người lớn. Trẻ bắt đầu sử dụng những cụm từ trong khi nói và chẳng bao lâu sau sinh nhật lần thứ hai, trẻ có thể nói được những câu ngắn khá hoàn chỉnh.

Một trong những đặc trưng của một trẻ phát triển tốt vào cuối giai đoạn này là khuynh hướng duy trì cuộc đàm thoại với người lớn như thể họ là những người bạn đồng trang lứa. Những cha mẹ tốt sẽ tự nhiên đáp ứng lại kiểu ngôn ngữ trẻ con ấy và tiếp tục cuộc đàm thoại thật bình đẳng với trẻ. Qua đó, trẻ sẽ được làm giàu thêm những kinh nghiệm và tăng thêm vốn liếng về ngôn ngữ. Khả năng suy nghĩ, trí thông minh, tính tò mò và kỹ năng giao tiếp xã hội cũng phát triển song song và hỗ trợ cho khả năng sử dụng ngôn ngữ.

Trẻ 3 tuổi sẽ lĩnh hội được một vốn từ vựng hơn 1000 từ, trong đó trẻ có thể sử dụng khoảng 800-900 từ để lập câu khi nói chuyện. Trẻ hiểu được hầu hết những lời của người lớn nói với trẻ, phát âm chuẩn xác hơn và có thể đặt những câu đúng ngữ pháp với số lượng từ 3 từ trở lên.

Cha mẹ hãy giúp con mình học nói

Các nhà giáo dục ngày nay khuyên cha mẹ nên bắt đầu nói chuyện với con mình ngay từ những ngày đầu tiên sau khi sinh chứ không đợi cho đến khi trẻ biết nói. Những tiền nhân thuở xưa có lẽ cũng đã biết rõ điều quan trọng này. Cùng với dòng sữa mẹ nuôi dưỡng thể chất của con, giọng nói vỗ về, tiếng hát và lời ru của mẹ như những chất men xúc tác đã giúp hình thành nơi trẻ một khả năng duy nhất chỉ loài người mới có: Khả năng dùng ngôn ngữ để giao tiếp.

Ngay từ tuổi nhũ nhi (trẻ còn ẵm ngửa), việc tìm hiểu những ý muốn và đáp ứng thỏa đáng những yêu cầu của trẻ là giúp trẻ hình thành cảm giác về “cho-và-nhận-thông-tin” trong sự giao tiếp. Nói chuyện với trẻ về những gì trẻ đang quan tâm hoặc những điều đang xảy ra trước mắt sẽ giúp trẻ tạo lập mối quan hệ giữa những âm thanh của lời nói và ý nghĩa của chúng. Và khi trẻ bắt đầu hiểu được lời nói, ta hãy đặt ra những yêu cầu và chỉ dẫn đơn giản để trẻ làm theo.

Nếu như việc nói chuyện với trẻ trong hai năm đầu chủ yếu là để giúp trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thì việc nói chuyện với trẻ trong năm thứ ba sẽ giúp trẻ có cơ hội thực hành khả năng sử dụng ngôn ngữ. Những lời nói đầu tiên của trẻ cần được trân trọng và cha mẹ cần tạo mọi điều kiện để khuyến khích trẻ nói.

Đến năm 3 tuổi, trẻ đã đi được một chặng đường khá dài. Lúc này, trẻ năng động hơn, hiếu kỳ hơn và cần có những mối quan hệ xã hội rộng hơn: quan hệ giao tiếp với những trẻ đồng trang lứa. Một giai đoạn mới với vô vàn cơ hội để học thêm ngôn ngữ đang chờ đợi trẻ: giai đoạn giáo dục mẫu giáo.

Sốc tâm lý” là cụm từ để nói đến tình trạng bị sang chấn tâm lý của con người, thường xuất hiện ngay sau khi có những sự kiện nghiêm trọng xảy ra gây đau buồn hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc và trong cuộc sống hàng ngày.

“Sốc tâm lý” gây ra những tác động làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi con người. Đặc biệt ở lứa tuổi thiếu nhi, nếu các em không được can thiệp hoặc hỗ trợ kịp thời sẽ có nguy cơ kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi trưởng thành.

Hiểu rõ các dấu hiệu, biểu hiện của con trẻ khi bị “ Sốc tâm lý” là điều cha mẹ cần biết để có thể giúp trẻ vượt qua.

1 - Sốc tâm lý là gì?

- Sốc tâm lý là từ ngữ “bình dân” để nói đến tình trạng bị sang chấn tâm lý của con người. Sang chấn tâm lý là một chấn thương (trauma) xuất hiện ngay sau khi có những kiện nghiêm trọng (gây đau đớn, đau buồn) xảy ra, có thể ở dạng thể lý hoặc tâm lý hoặc cả hai.

- Sốc về mặt tâm lý gây ra những ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc, và hành vi con người.

- Càng trực tiếp liên quan nhiều đến các sự kiện gây sang chấn thì càng dễ tổn thương hơn. Tuy vậy, ngay cả khi chỉ là “người quan sát” hoặc xem hình ảnh… về sự kiện sang chấn cũng có thể gây tổn thương

- Sang chấn tâm lý ở trẻ em nếu không được can thiệp hoặc hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả thì sẽ có nguy cơ kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi trưởng thành.

- Khi bị sốc về tâm lý, trẻ em có thể trở nên sợ hãi, thu rút hoặc có cảm giác tái diễn liên tục các sự kiện đau buồn trong đầu, thiếu tập trung, cảm thấy vô dụng, mất ngủ, chán ăn, hành vi gây hấn, muốn xem lại hoặc nghe kể lại về sự kiện đau buồn với một tâm trạng bất an và lo sợ…

2 - Sốc tâm lý ở trẻ em có thể xuất phát từ những sự cố sau:

- Môi trường sống không an toàn hoặc không ổn định

- Thiên tai hoặc tai nạn nghiêm trọng.

- Chia ly/ bị buộc phải rời xa cha mẹ.

- Khi gặp phải những căn bệnh nghiêm trọng/ hiểm nghèo.

- Sử dụng thuốc (tây) một cách bừa bãi.

- Bị lạm dụng tình dục, thân thể hoặc bị mắng nhiếc, đe dọa thậm tệ.

- Bạo lực/ bạo hành trong gia đình, trường học hoặc cộng đồng.

- Bị bỏ rơi.

- Bị bắt nạt.

- Cha mẹ chia tay hoặc thậm chí khi chứng kiến cảnh cha hoặc mẹ bị bạo hành.... và còn nhiều nguyên do tương tự khác.

Cần chú ý đặc biệt khi trẻ có những dấu hiệu sau:

- Từ chối đi đến những địa điểm làm gợi nhớ về sự kiện gây sốc (sang chấn)

- Có vẻ tê cứng cảm xúc (không đáp ứng cảm xúc một cách bình thường với những sự kiện bình thường của cuộc sống)

- Nhạy cảm quá mức với sự kiện bình thường có mức độ rất nhẹ

- Có những hành vi được thể hiện theo những cách có thể gây nguy hiểm cho bản thân

Những đứa trẻ có dấu hiệu trên cần phải được lưu ý một cách đặc biệt và cần sự giúp đỡ ngay tức khắc và chuyên nghiệp.

3 - Những điều cha mẹ có thể làm

- Đến với trẻ: Lắng nghe trẻ nói (dù có thể khó khăn để diễn đạt rõ ràng); Chấp nhận hoặc không tranh luận về những cảm xúc của trẻ; Giúp trẻ đối diện với những thực tại vừa trải nghiệm

- Giảm tác động của những nhân tố có thể gây căng thẳng: Thường xuyên thay đổi hoặc di chuyển nơi ở; Cách xa gia đình và bạn hữu thời gian dài; Áp lực trong trường học; Phải liên tục “chiến đấu” với gia đình; Bị đói.

- Theo dõi tiến trình bình phục: Kiên nhẫn (vì có thể phải mất nhiều thời gian); Chú ý đến những hành vi hoặc ngôn ngữ hoặc những trạng thái cảm xúc thay đổi đột ngột

- Nhắc cho trẻ biết rằng người lớn luôn yêu thương chúng, sẵn sàng hỗ trợ chúng và sẽ cùng ở bên chúng mọi khi có thể.

4 - Những gợi ý cha mẹ có thể làm trước hết khi trẻ gặp những cú sốc tâm lý

- Xác định và chỉ ra/ nói ra cho trẻ biết những cảm xúc cụ thể mà trẻ đang gặp phải

- Giải thích rõ ràng với trẻ về điều gì đã diễn ra (tránh che giấu các thông tin liên quan đến sự kiện)

- Cho đứa trẻ biết rằng: Cha/ mẹ luôn yêu con; Sự kiện xảy ra không phải là lỗi của con; Cha/ mẹ sẽ chăm sóc cho con. (Chú ý rằng cha mẹ chỉ nói điều đó khi thấy rằng thực sự mình có thể làm được được những điều đó); Việc con cảm thấy buồn là rất bình thường.

- Hãy để trẻ khóc; Chấp nhận chuyện trẻ buồn; Để trẻ nói về những cảm xúc của chúng; Để trẻ viết hoặc vẽ về những cảm xúc của chúng.

- Nếu trẻ có vấn đề về giấc ngủ: Chú ý nhiều hơn đến trẻ, để trẻ ngủ với đèn sáng, để trẻ ngủ trong phòng cha mẹ (thời gian ngắn/ tạm thời)

- Cố gắng giữ những nguyên tắc sinh hoạt bình thường (một số nguyên tắc sinh hoạt bình thường có thể không phù hợp trong thời điểm này đối với một số trẻ): Đọc truyện trong giờ đi ngủ, ăn tối cùng nhau, xem TV cùng nhau, đọc sách, tập thể dục, và chơi trò chơi cùng trẻ

- Giúp trẻ cảm thấy có thể kiểm soát: để trẻ chọn món ăn – nếu có thể, để trả lựa chọn áo quần – nếu có thể, để trẻ đưa ra vài quyết định cho trẻ - khi có thể

5 - Những điều không nên làm:

- Mong đợi trẻ can đảm và cứng rắn

- Bảo đứa trẻ trao đổi về sự kiện khi chúng chưa sẵn sàng

- Tức giận khi trẻ thể hiện những cảm xúc mạnh

- Buồn khi trẻ bắt đầu đái dầm, la lối, hoặc mút tay